Hình 1: giải phẫu khớp gối trên mặt cắt dọc với gân cơ tứ đầu đùi và bao hoạt dịch trên xương bánh chè.
Kĩ thuật bộc lộ gân cơ tứ đầu đùi và bao hoạt dịch trên xương bánh chè là bệnh nhân nằm ngửa với gối gấp tạo góc 300. Đầu dò đặt dọc sát xương bánh chè.
Hình 2: Kĩ thuật bộc lộ gân cơ tứ đầu đùi và bao hoạt dịch trên xương bánh chè
Hình 3: Mặt cắt dọc phía trên xương bánh chè với gân cơ tứ đầu đùi (đầu mũi tên), mỡ trên xương bánh chè (1;2) và bao hoạt dịch trên xương bánh chè (dấu hoa thị)
II. Mặt cắt qua ròng rọc xương đùi: đánh giá sụn khớp Bệnh nhân nằm ngửa với gối gấp tối đa, đầu dò đặt vuông góc với xương đùi ở vị trí sát với xương bánh chè khi đó sụn khớp được bộc lộ. Mặt cắt này cũng được dùng để đo bề dày sụn khớp.
Hình 4: mặt cắt đo bề dày sụn khớp với gân cơ tứ đầu đùi (qt) và sụn khớp ( hoa thị)
Hình 5: mặt cắt bộc lộ túi hoạt dịch trước xương bánh chè với túi hoạt dịch trước xương bánh chè là đường giảm âm (mũi tên)
IV. Dây chằng bánh chè Dây chằng bánh chè là phần gân cơ tứ đầu đùi đi từ đỉnh xương bánh chè đến lồi củ trước xương chày. Tư thế để bộc lộ dây chằng bánh chè là bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp 300. Đầu dò đặt dọc trên đường giữa nối từ xương bánh chè đến lồi củ chày . Chúng ta khảo sát trên cả hai mặt phẳng là mặt phẳng cắt dọc qua dây chằng bánh chè và mặt phẳng cắt ngang.
Hình 6: mặt phẳng cắt dọc dây chằng bánh chè với dây chằng bánh chè (PT), mỡ hofa (H), xương bánh chè (P) và xương chày (T).
Khi khảo sát dây chằng bánh chè chúng ta cần chú ý đến túi hoạt dịch dưới bánh chè nông và túi hoạt dịch dưới bánh chè sâu ( xem hình 1). V. Mạc giữ bánh chè trong và ngoài: Mạc giữ bánh chè là phần bao khớp bám vào hai bờ bên xương bánh chè. Đặt đầu dò dọc theo đường nối giữa xương bánh chè và xương đùi khi đó mạc giữ xương bánh chè được bộc lộ.
Hình 7: Mặt cắt qua dây chằng bánh chè: dây chằng bánh chè được bộc lộ (hoa thị).
VI. Dây chằng bên chày và sụn chêm Dây chằng bên chày là dây chằng đi từ lồi cầu trong xương đùi đến mặt trong đầu trên xương chày. Đặt đầu dò dọc theo mặt trong trên đường nối giữa xương đùi và xương chày khi đó dây chằng bên chày được bộc lộ.
Hình 8: mặt cắt qua dây chằng bên chày với dây chằng bên chày (mũi tên)
và sụn chêm (dấu sao)
VII. Gân cơ chân ngỗng Gân cơ chân ngỗng được tạo nên bởi gân cơ thon, gân cơ may và gân cơ bám gân. Gân cơ chân ngỗng bám tận ở lồi cầu trong xương đùi. Để bộc lộ gân cơ chân ngỗng thì đầu dò đặt dọc ở mặt trong đầu trên xương chày.
Hình 9: mặt cắt qua nhóm gân cơ chân ngỗng với gân cơ chân ngỗng nằm sát xương chày được bộc lộ (đầu mũi tên)
VIII. Dải chậu chày Dải chậu chày là phần chuyển tiếp của gân cơ mông to và cơ căng mạc đùi, dải gân xơ này chạy xuống bám vào lồi cầu ngoài xương đùi. Để bộc lộ được dải chậu chày thì đầu dò đặt dọc ở vị trí lồi cầu ngoài xương đùi.
Hình 10: Mặt cắt qua dải chậu chày với dải chậu chày là phần gân nằm sát lồi cầu ngoài xương đùi ( vùng khoanh tròn)
IX. Dây chằng bên mác Dây chằng bên mác đi từ lồi cầu ngoài xương đùi đến chỏm xương mác. Kĩ thuật bộc lộ dây chằng bên mác tương tự như bộc lộ dây chằng bên chày nhưng ở mặt bên ngoài.
Hình 11: Mặt cắt qua dây chằng bên mác với dây chằng bên mác (vùng khoanh tròn) và sụn chêm
X. Mặt cắt qua trám khoeo Mặt cắt dọc và ngang qua trám khoeo sẽ bộc lộ được động mạch khoeo, tĩnh mạch khoeo, đầu cơ bụng chân ngoài và cơ bụng chân trong, thần kinh chày và một phần của dây chằng chéo sau.
Hình 12: Hình ảnh các lát cắt qua trám khoeo với động mạch khoeo (a), tĩnh mạch khoeo (v), đầu cơ bụng chân ngoài (LHG), đầu cơ bụng chân trong (MHG) , dây chằng chéo sau (mũi tên thẳng) và thần kinh chày (mũi tên cong).
XI. Kết luận Siêu âm khớp gối là một phương pháp rất giá trị trong chẩn đoán các bệnh lý vùng khớp gối do nó rất thuận tiện, rẻ tiền, có thể khảo sát động. Khớp gối là một khớp phức tạp nên đòi hỏi người làm siêu âm phải nắm được giải phẫu khớp gối và kĩ thuật siêu âm khớp gối nhằm bộc lộ được đúng vị trí tổn thương của khớp. Kĩ thuật siêu âm khớp gối được tóm tắt dưới video sau đây: http://youtu.be/jUHIMNaqjooThs Bs Nguyễn Tiến Long